Thành tựu y dược chẩn đoán và điều trị ung thư vú: Những đóng góp thầm lặng

Những đóng góp thầm lặng của nhiều thế hệ ở Bệnh viện K góp phần đưa việc phòng chống ung thư vú ở Việt Nam lên một tầm cao mới.

 

Tìm tòi, nghiên cứu, cập nhật những phác đồ tiên tiến trên thế giới để ứng dụng trong việc chẩn đoán và điều trị cho người bệnh ung thư vú - những đóng góp thầm lặng của nhiều thế hệ ở Bệnh viện K - là thành tựu y học vừa được vinh danh tại Giải thưởng Nhân tài Đất Việt 2018.

Ung thư vú ngày càng phổ biến và trẻ hóa

“Cụm công trình nghiên cứu Dịch tễ học, ứng dụng các tiến bộ mới trong chẩn đoán, điều trị và nâng cao chất lượng sống cho người bệnh ung thư vú" vừa đoạt giải Nhất - Giải thưởng Nhân tài Đất Việt, lĩnh vực y dược năm 2018.

GS.TS Trần Văn Thuấn, Giám đốc Bệnh viện K, Viện trưởng Viện ung thư Quốc gia không giấu nổi niềm vui khi đại diện cho nhóm nghiên cứu cho biết, đây là cụm công trình nghiên cứu toàn diện về ung thư vú bao gồm: dịch tễ học, sàng lọc phát hiện sớm, ứng dụng công nghệ cao trong chẩn đoán, điều trị và chăm sóc cho người bệnh ung thư vú từ nhiều thế hệ các bác sĩ của Bệnh viện K kết hợp với các nhà khoa học quốc tế.

GS.TS Trần Văn Thuấn (đứng giữa) tại lễ tôn vinh Nhân tài Đất Việt 2018 (ảnh: NVCC)

Ung thư vú là căn bệnh phổ biến nhất ở nữ giới. Nguy cơ ung thư vú liên quan đến tuổi bắt đầu có kinh sớm, tuổi mãn kinh muộn, sinh con lần đầu trên 30 tuổi, phụ nữ không sinh con, không cho con bú, thừa cân béo phì, chị em dùng thuốc tránh thai lâu năm hoặc dùng nội tiết thay thế và một phần do yếu tố di truyền.

GS.TS Thuấn cho biết, ung thư vú có giai đoạn tiền lâm sàng - tức là trước khi hình thành khối u, tế bào ung thư đã xuất hiện nhưng chưa thể sờ thấy được. Thế nhưng, khi chụp tuyến vú, có thể thấy các ổ vi can xi hóa, sau đó lấy bệnh phẩm sinh thiết qua định vị kim dây sẽ phát hiện có tế bào ung thư hay không. Kỹ thuật này được áp dụng ở Bệnh viện K từ năm 2000.

“Phương pháp chụp tuyến vú, nhất là chụp tuyến vú kết hợp với định vị 3 chiều bằng kim dây đã cho kết quả phát hiện ung thư vú rất sớm ngay cả khi bác sĩ chưa sờ thấy u qua thăm khám lâm sàng. Khi ung thư vú được phát hiện ở giai đoạn sớm như vậy thì khả năng chữa khỏi hoàn toàn rất cao, có thể lên tới 95%, không những thế bệnh nhân còn có cơ hội bảo tồn bộ ngực, chi phí điều trị bệnh thấp”, GS.TS Trần Văn Thuấn khuyến cáo.

Cụm công trình nghiên cứu này cũng cho thấy, tỷ lệ mắc bệnh ung thư vú ở phụ nữ Việt Nam ngày càng gia tăng. Theo ước tính, mỗi năm ở Việt Nam có trên 15.000 trường hợp mới mắc và trên 6.000 trường hợp tử vong do ung thư vú. Tính cả số mới mắc và số đang chữa trị và theo dõi thì có khoảng 42.188 người đang sống chung với căn bệnh này. Xu hướng mắc bệnh ung thư vú ở phụ nữ Việt Nam trẻ hơn so với nhiều nước. Điều đáng tiếc, hiện nay ở Việt Nam, vẫn còn đến 50% người bệnh tới khám khi bệnh ung thư vú đã ở giai đoạn muộn, vì vậy kết quả chữa trị không cao. Do đó, nếu như khuyến cáo sàng lọc ung thư vú ở các nước phát triển là 45-50 tuổi thì tại Việt Nam được khuyến cáo là sau tuổi 40.

Luôn cập nhật những phác đồ tiên tiến trên thế giới

TS.BS Phùng Thị Huyền, Trưởng khoa Nội, Bệnh viện K cho biết, các bác sĩ ở đây luôn thường xuyên học hỏi, cập nhật và ứng dụng những phác đồ điều trị tiên tiến trên thế giới để nâng cao hiệu quả điều trị và chất lượng cuộc sống cho người bệnh ung thư vú. “Thế giới có phác đồ điều trị gì thì Bệnh viện K đều làm được. Điều quan trọng, bác sĩ biết phân nhóm về thông tin lâm sàng, về mô bệnh học, hóa mô miễn dịch của người bệnh để từ đó lựa chọn phương pháp điều trị đúng với đặc điểm của từng cá thể, mới cho kết quả điều trị cao”, TS Huyền khẳng định.

TS.BS Phùng Thị Huyền thăm khám cho bệnh nhân (ảnh: Lưu Hường)

Ngoài xạ trị và hóa trị thì phẫu thuật cũng đạt được nhiều tiến bộ trong thập kỷ qua. Trước đây để đề phòng khối u vú phát triển tại chỗ xâm lấn ra xung quanh, các phẫu thuật viên phải cắt rộng rãi tuyến vú, thậm chí cắt cả cơ ngực lớn, cắt sát xương sườn. Khi đó, người bệnh sẽ có nguy cơ đối diện với những biến chứng như tay to, ảnh hưởng nặng nề tới thẩm mỹ, chức năng vận động. Thấy việc điều trị ảnh hưởng tới chất lượng sống của người bệnh như vậy, nhóm nghiên cứu đã từng bước cải tiến trong phẫu thuật điều trị ung thư vú. Các phương pháp phẫu thuật mới được áp dụng theo thời gian như: phẫu thuật bảo tồn tuyến vú (cắt một phần tuyến vú kèm vét hạch nách), trường hợp không có chỉ định phẫu thuật bảo tồn, các bác sĩ sẽ phẫu thuật cắt tuyến vú tiết kiệm da, tạo hình và bảo tồn núm vú, phẫu thuật sinh thiết hạch cửa, qua đó làm giảm chỉ định vét hạch nách thường quy không cần thiết… Khi phẫu thuật bảo tồn, người bệnh cần thiết phải xạ trị kết hợp. Chúng tôi đã nghiên cứu ứng dụng xạ trị điều biến liều, tăng hiệu quả điều trị mà giảm thiểu ảnh hưởng tới các tổ chức mô lành xung quanh, nâng cao chất lượng sống cho người bệnh. Bên cạnh đó, nghiên cứu cũng cho thấy tỷ lệ người bệnh ung thư vú bị stress lên tới 40,4%. Điều đó đòi hỏi các bác sĩ cần chăm sóc và điều trị toàn diện hơn cho người bệnh, trong đó có điều trị tâm lý”, TS. Huyền bày tỏ.

Chị Lưu Thị Ánh P, 45 tuổi, ở Thái Nguyên, là một trong rất nhiều bệnh nhân đã được ứng dụng nghiên cứu từ cụm công trình này. Chị P cho biết, tháng 12/2008 chị phát hiện ung thư vú giai đoạn 3. Chị được phẫu thuật tại Singapore và được điều trị hóa chất, nội tiết, xạ trị và thuốc điều trị đích (trastuzumab) tại Bệnh viện K. “Cũng là phác đồ giống bên Singapore, nhưng về Việt Nam chi phí rẻ hơn. Những người bệnh ở giai đoạn muộn và thể nặng như tôi, điều trị duy trì tình trạng “không bệnh” đến nay, cho thấy việc dung nạp thuốc tốt. Hiện tại tôi không còn tổn thương ở tất cả các vị trí, thể trạng ổn định là tôi mừng rồi”, chị Ánh P tự tin nói.

Tỷ lệ cứu sống ngang tầm thế giới

GS.TS Trần Văn Thuấn cho biết, trước đây chị em phát hiện ung thư vú đã có ý nghĩ tiêu cực khi coi đó là “cửa tử”. Nhưng từ thực thế cho thấy, nhiều nước tiên tiến đều coi ung thư vú như một bệnh mạn tính. Đặc biệt, khi ứng dụng và điều trị ung thư vú, Bệnh viện K đã áp dụng phẫu thuật, xạ trị, điều trị bằng thuốc bao gồm hóa chất, nội tiết và thuốc đích cho từng trường hợp cụ thể, dựa trên bản chất của từng loại tế bào ung thư vú. Qua đó áp dụng một số biện pháp hiện đại, đặc biệt là nhuộm lai huỳnh quang tại chỗ (kỹ thuật FISH) cho phép phát hiện ung thư vú có khuếch đại với yếu tố phát triển biểu mô Her 2 chính xác nhất. Bởi trường hợp nào khuếch đại gene này, bệnh tiến triển rất nhanh và dẫn tới tử vong nhanh nếu không điều trị thích đáng.

“Cũng nhờ phát hiện nền tảng quan trọng này, chúng tôi ứng dụng các sản phẩm của công nghệ sinh học bằng kháng thể đơn dòng trastuzumab cho các trường hợp dương tính Her 2, cho kết quả “lội ngược dòng” một cách ngoạn mục. Nếu bình thường tỷ lệ sống thêm của người bệnh ung thư vú khuếch đại gene này sau 5 năm là dưới 50%, nhưng khi áp dụng kỹ thuật mới, tỷ lệ chữa khỏi tại Bệnh viện K lên tới 75%. Đây là kết quả tương đương với các nước trên thế giới”, GS.TS Trần Văn Thuấn khẳng định.

Thành tựu cao quý từ cụm công trình này không chỉ là mốc son quan trọng cho sự phát triển của nền y học nước nhà mà còn đưa việc phòng chống ung thư vú ở Việt Nam lên một tầm cao mới. Điều xúc động trong tôi khi nghe GS.TS Trần Văn Thuấn chia sẻ: “Nhóm tác giả đã chuyển giao ngay cho các cơ sở phòng chống ung thư ở Việt Nam để người bệnh được thừa hưởng thành quả của cụm công trình này và góp phần giảm thiểu tối đa tỷ lệ tử vong do ung thư tại Việt Nam”.

“Cụm công trình là kết quả từ nhiều nghiên cứu trong lĩnh vực UTV được tiến hành từ 1994 - 2016. Nhờ kết hợp một loạt các tiến bộ trong chẩn đoán, điều trị đã cho tỷ lệ chữa khỏi UTV lên tới 75%”, GS.TS Trần Văn Thuấn.

 

 

Bình luận

    Chưa có bình luận